Tin tức mới nhất |vietnamhomnay

    04

    NOV

    CPI tháng 10 chỉ nhích nhẹ 0-20%- lạm phát cơ bản 10 tháng được kiểm soát tốt ở mức 4-24%


  • -Những chính sách kinh tế mới có hiệu lực từ tháng 11/2026
  • -Tự di dời nhà hàng của đối tác trị giá nhiều tỷ đồng- Dân sự hay hình sự?

  • Theo đó, CPI tháng 10 tăng 0,20% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 04 nhóm có chỉ số giá giảm. 07 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng 10,35%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,40%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá hàng thủy tinh, sành sứ tăng 0,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,56%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,51%; xà phòng, chất tẩy rửa tăng 0,29%.  Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao. Trong đó, giá nước giải khát có ga tăng 0,49%; thuốc hút tăng 0,47%; nước uống tăng lực tăng 0,25%; nước quả ép tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,21%.

    Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,51%; dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 0,77%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,28%. Nhóm giáo dục tăng 0,31%, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,33% do một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới; bút viết các loại tăng 0,31%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,19%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng. Nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,49% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26% do chi phí nhân công tăng; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,51%.

    Cũng theo Cục Thống kê, CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,70 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng, gồm: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,80%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

    Lạm phát cơ bản tháng 10 năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

    04

    NOV

    CPI tháng 10 chỉ nhích nhẹ 0-20%- lạm phát cơ bản 10 tháng được kiểm soát tốt ở mức 4-24%


  • -FPT Retail thăng hạng tại Fortune Southeast Asia 500- Chủ tịch Nguyễn Bạch Điệp vào danh sách 100 Phụ nữ quyền lực nhất châu Á
  • -Bất động sản Đà Nẵng: Khách sạn- bán lẻ và nhà ở cùng ghi nhận tín hiệu tích cực

  • Theo đó, CPI tháng 10 tăng 0,20% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 04 nhóm có chỉ số giá giảm. 07 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng 10,35%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,40%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá hàng thủy tinh, sành sứ tăng 0,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,56%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,51%; xà phòng, chất tẩy rửa tăng 0,29%.  Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao. Trong đó, giá nước giải khát có ga tăng 0,49%; thuốc hút tăng 0,47%; nước uống tăng lực tăng 0,25%; nước quả ép tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,21%.

    Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,51%; dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 0,77%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,28%. Nhóm giáo dục tăng 0,31%, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,33% do một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới; bút viết các loại tăng 0,31%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,19%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng. Nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,49% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26% do chi phí nhân công tăng; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,51%.

    Cũng theo Cục Thống kê, CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,70 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng, gồm: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,80%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

    Lạm phát cơ bản tháng 10 năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

    04

    NOV

    CPI tháng 10 chỉ nhích nhẹ 0-20%- lạm phát cơ bản 10 tháng được kiểm soát tốt ở mức 4-24%


  • -VPBank và AIA giới thiệu Tinh Hoa Thịnh Vượng- sản phẩm bảo hiểm kết hợp bảo vệ và đầu tư dành cho khách hàng cao cấp
  • -Chiêm ngưỡng chiếc điện thoại Vertu giá hơn 2-3 tỷ đồng

  • Theo đó, CPI tháng 10 tăng 0,20% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 04 nhóm có chỉ số giá giảm. 07 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng 10,35%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,40%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá hàng thủy tinh, sành sứ tăng 0,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,56%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,51%; xà phòng, chất tẩy rửa tăng 0,29%.  Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao. Trong đó, giá nước giải khát có ga tăng 0,49%; thuốc hút tăng 0,47%; nước uống tăng lực tăng 0,25%; nước quả ép tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,21%.

    Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,51%; dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 0,77%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,28%. Nhóm giáo dục tăng 0,31%, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,33% do một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới; bút viết các loại tăng 0,31%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,19%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng. Nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,49% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26% do chi phí nhân công tăng; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,51%.

    Cũng theo Cục Thống kê, CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,70 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng, gồm: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,80%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

    Lạm phát cơ bản tháng 10 năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

    04

    NOV

    CPI tháng 10 chỉ nhích nhẹ 0-20%- lạm phát cơ bản 10 tháng được kiểm soát tốt ở mức 4-24%


  • -Ngân hàng Quân đội (MBB): Chi 3.000 tỷ đồng lập pháp nhân mới tại VIFC- cổ đông tổ chức xả bán hàng triệu cổ phiếu
  • -Phú Thọ chuyển đổi gần 49 ha rừng làm Khu đô thị sinh thái Phú Minh

  • Theo đó, CPI tháng 10 tăng 0,20% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 04 nhóm có chỉ số giá giảm. 07 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng 10,35%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,40%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá hàng thủy tinh, sành sứ tăng 0,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,56%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,51%; xà phòng, chất tẩy rửa tăng 0,29%.  Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao. Trong đó, giá nước giải khát có ga tăng 0,49%; thuốc hút tăng 0,47%; nước uống tăng lực tăng 0,25%; nước quả ép tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,21%.

    Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,51%; dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 0,77%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,28%. Nhóm giáo dục tăng 0,31%, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,33% do một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới; bút viết các loại tăng 0,31%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,19%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng. Nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,49% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26% do chi phí nhân công tăng; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,51%.

    Cũng theo Cục Thống kê, CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,70 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng, gồm: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,80%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

    Lạm phát cơ bản tháng 10 năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

    04

    NOV

    CPI tháng 10 chỉ nhích nhẹ 0-20%- lạm phát cơ bản 10 tháng được kiểm soát tốt ở mức 4-24%


  • -Báo lãi bán niên gần 600 tỷ đồng, Đầu tư Thành Thành Công quyết định bán sạch hơn 137 triệu cổ phiếu SBT
  • -Thực phẩm Sao Ta (FMC): Doanh số tháng 10 đảo chiều tăng hơn 6%

  • Theo đó, CPI tháng 10 tăng 0,20% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 04 nhóm có chỉ số giá giảm. 07 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng 10,35%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,40%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá hàng thủy tinh, sành sứ tăng 0,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,56%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,51%; xà phòng, chất tẩy rửa tăng 0,29%.  Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao. Trong đó, giá nước giải khát có ga tăng 0,49%; thuốc hút tăng 0,47%; nước uống tăng lực tăng 0,25%; nước quả ép tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,21%.

    Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,51%; dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 0,77%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,28%. Nhóm giáo dục tăng 0,31%, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,33% do một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới; bút viết các loại tăng 0,31%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,19%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng. Nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,49% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26% do chi phí nhân công tăng; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,51%.

    Cũng theo Cục Thống kê, CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,70 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng, gồm: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,80%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

    Lạm phát cơ bản tháng 10 năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

    04

    NOV

    CPI tháng 10 chỉ nhích nhẹ 0-20%- lạm phát cơ bản 10 tháng được kiểm soát tốt ở mức 4-24%


  • -Kịp thời phối hợp cứu nạn người mắc kẹt trong cabin xe tải bị lật tại xã Nậm Ty- tỉnh Sơn La
  • -Nền tảng thúc đẩy chiến lược 'bất động sản giá trị thực' tại Nam Long

  • Theo đó, CPI tháng 10 tăng 0,20% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 04 nhóm có chỉ số giá giảm. 07 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng 10,35%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,40%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá hàng thủy tinh, sành sứ tăng 0,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,56%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,51%; xà phòng, chất tẩy rửa tăng 0,29%.  Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao. Trong đó, giá nước giải khát có ga tăng 0,49%; thuốc hút tăng 0,47%; nước uống tăng lực tăng 0,25%; nước quả ép tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,21%.

    Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,51%; dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 0,77%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,28%. Nhóm giáo dục tăng 0,31%, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,33% do một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới; bút viết các loại tăng 0,31%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,19%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng. Nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,49% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26% do chi phí nhân công tăng; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,51%.

    Cũng theo Cục Thống kê, CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,70 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng, gồm: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,80%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

    Lạm phát cơ bản tháng 10 năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.